Mã Lực là gì ? Định nghĩa mã lực trong động cơ.

Trong hàng loạt các thông số trong động cơ, Thì thông số về công xuất là được chú ý nhất. Bởi nó thể hiện tốc độ, vận tốc của chiếc xe. Có nhiều phương pháp xác định công suất khác nhau nhưng chúng đều được ghi thành mã lực để mọi người dẽ hiểu. Nhưng với không phải ai cũng hiểu chính xác định nghĩa Mã Lực. Người ta chỉ hiểu là chỉ số công suất càng lớn thì động cơ càng mạnh. Nhưng thực tế tại sao lại gọi là Mã Lực và tường tận về Ma Lực thì ít ai biết, vậy Mã Lực là gì? Hôm nay hãy đi cùng Xemayplus để tìm hiểu chi tiết hơn.

1 Định nghĩa Mã Lực là gì?

  • Mã Lực là phiên âm nguyên ngữ của tiếng Hán,
  • Mã là ngựa (là con ngựa)
  • Lực là công sức, lực kéo, sức léo, là sức lực.

Khi ghép hai chữ thì ta được: Ngựa sức, đọc thuần và trôi chảy tiếng việt và dẽ hiểu hơn là SỨC NGỰA

ma luc la suc ngua
Mã lực là sức ngựa

Mã lực có tên gọi tiếng anh là “horse power” (Thường viết tắt là HP). Người đầu tiên đưa ra khái niệm này vào năm 17782 do là James Watt là người tạo nên định nghĩa này.
Mã lực (viết tắt là HP – horse power) là một đơn vị cũ dùng để chỉ công suất. Nó được định nghĩa là công cần thiết để nâng một khối lượng 75 kg lên cao 1 mét trong thời gian 1 giây hay 1HP = 75 kgm/s.

2. Cách tính và quy đổi mã lực

Lúc đầu, Jame Watt chưa phân chia các loại mã lực khác nhau nên sau đó, các nhà khoa học sau ông đã đặt tên cho cách gọi của ông là mã lực cơ học (mechanical horsepower). Một mã lực cơ học có giá trị chính xác 745,69987158227022 W, nghĩa là công suất 1 bóng điện 100 W sẽ bằng 0,13 mã lực. (nghĩa là từ động năng chuyển thành điện năng)

Để có hình ảnh trực quan hơn, mã lực cơ học được mô tả là công mà một chú ngựa bỏ ra để kéo 33.000 pound (1 pound = 454 gram) lên 1 foot (30,48 cm) trong thời gian 1 phút (minute).

Cách quy đổi mã lực thành W (Đơn vị đo điện năng)

3. Mã lực bằng bao nhiêu w?

HP được đưa ra với kết quả giá trị khác nhau, tùy theo từng vùng quốc gia khác nhau. Nhưng cơ bản vẫn mang một định nghĩa chung. Trong đó, mã lực chính thống nhất là mã lực của Anh được ký hiệu là HP.
Trong đó:
1 HP = 0,746 kW = 746 W Các giá trị mã lực thường giao động từ khoảng 0.735 đến 0.746 kW tùy từng quốc gia. Trong thực tế để chuyển đổi nhanh chóng giữa các đơn vị “mã lực” và “kW” (kilô watt), người ta hay dùng các hệ số tương đối như sau:

  • Ở nước Anh: 1 HP = 0,746 kW.
  • Ở nước Pháp: 1CV (mã lực) = 0,736 kW
  • 1 kW = 1,36 HP.

Có nhiều định nghĩa mã lực, với giá trị khác nhau dao động từ 735 đến 746W.

4. Phân loại mã lực là như thế nào?.

Sau thời điểm Jame Watt đưa ra định nghĩa mã lực, có hàng loạt đơn vị công suất được sáng tạo để phù hợp với điều kiện từng ngành. Tính đến hiện tại, có tới 4 loại mã lực khác nhau gồm:

  • Mã lực cơ học (trùng với định nghĩa của Jame Watt): dùng để nói về công suất sức máy.
  • Mã lực theo hệ mét (metric horsepower): Các đơn vị khác nhau được sử dụng để định nghĩa mã lực này là PS, cv, hk, pk, ks và ch, các đơn vị này đều được dịch là mã lực.
  • Mã lực điện (electrical horsepower, sử dụng cho ngành điện): Mã lực này được sử dụng cho các máy điện.
  • Mã lực nồi hơi (boiler horsepower): Đây là mã lực dùng để chỉ khả năng của lò hơi nhằm cung cấp hơi cho động cơ hơi nước. Khi mới sử dụng hơi nước, công suất lò hơi gần như tương đương với công suất của động cơ được cung cấp bởi lò hơi.
Mã lực trong động cơ xe hơi

Ngoài ra còn có các mã khác nhưng không được phổ biến như:

  • Mã lực thủy lực (hydraulic horsepower): Đây là mã lực được sử dụng để ước tính công suất cơ học cần thiết để tạo ra tốc độ dòng chảy thủy lực đã biết.
  • Mã lực thanh kéo (drawbar horsepower): Đây là con số được đo đạc thay vì tính toán, là sức mạnh đầu máy có sẵn để di chuyển một vật, đó có thể là xe lửa hoặc máy kéo nông nghiệp.

Hơn nữa, còn có hai loại mã lực là:

  • Mã lực thuế (tax horsepower): Là một đánh giá phi tuyến tính của xe cơ giới vì mục đích thuế.
  • Mã lực RAC: được thiết lập bởi Câu lạc bộ ô tô Hoàng gia ở Anh. Được sử dụng để biểu thị cho sức mạnh của những chiếc xe hơi Anh đầu thế kỷ 20.

Đối với ngành công nghiệp xe hơi, mã lực cơ học (mechanical horsepower) và mã lực theo hệ mét là phổ biến nhất. Mã lực theo hệ mét khai sinh tại Đức trong thế kỷ 19 và mở rộng sang châu Âu và châu Á. Khi du nhập sang các nước, mã lực hệ mét lại được ký hiệu khác nhau như: “PS” ở Đức, “CV” ở Pháp, “PK” ở Hà Lan. Về cơ bản, các đơn vị này xấp xỉ bằng mã lực cơ học (vào khoảng 98,6%) do chúng được đo bằng các đơn vị khác nhau.

5. Sự rối rắm trong cách đo mã lực là gì và như thế nào với các quốc gia?

Cũng vì đo bằng các đơn vị khác nhau nên có sự không được chấp thuận lẫn nhau trong cách đo mã lực của các động cơ xe hơi và các dòng xe có công suất lớn.

Vì có sự khác biệt nên khi các hãng đua nhau sản xuất động cơ công suất lớn thì mọi chuyện trở nên rối rắm. Thậm chí, công suất động cơ được nâng lên gấp đôi khi chuyển đổi các hệ đo lường khác nhau. Ví dụ, Bugatti luôn cho rằng chiếc siêu xe Veyron 16.4 có công suất lên tới 1.001 mã lực thì ở bờ kia Đại Tây Dương, các kỹ sư Mỹ khăng khăng cho rằng nó chỉ có 980 mã lực theo hệ SAE.

ma luc trong dong co
Mã lực trong động cơ

Cách xác định công suất theo mã lực là công việc phức tạp và tốn kém. Công suất động cơ mà các nhà sản xuất ghi trong bảng thông số kỹ thuật xe là công suất cực đại, nghĩa là công suất lớn nhất mà chiếc xe có thể đạt được tại vòng tua nhất định. Đường cong biểu diễn công suất theo số vòng tua máy luôn tồn tại một điểm cực đại, và giá trị công suất tại điểm đó là công suất tối đa của động cơ. Công suất thể hiện cho khả năng đạt vận tốc tối đa của chiếc xe nhưng nó không đại diện cho khả năng tăng tốc. Vì vậy, công suất cao chưa chắc xe đã “bốc” mà còn phụ thuộc vào mô-men xoắn và vòng tua máy.

6. Cách tính Mã Lực cho xe máy.

Thường khi tìm hiểu về thông số xe, bạn sẽ bắt gặp các khái niệm về công suất máy như: 10kW tại 7000 vòng/phút, hoặc 11kW tại 6500 vòng/phút. Sau khi đọc các thông số này, ta có thể hiểu xe sẽ đạt công suất lớn nhất tại số vòng quay là 7000/phút hoặc 6500/phút. Điều này có nghĩa là số vòng tua của máy không thể mạnh và nhanh hơn nữa. Khi tốc độ quay của piston đạt 7000 vòng/ phút (tức là mô-men xoắn) thì sẽ sinh điện năng là 10kW. Áp dùng cách quy đổi này ta có thể tính được các công suất khác của xe. (Sẽ có một bài viết khác về Mô-men xoắn là gì?)

Một số nhà sản xuất thường nói quá số công suất thực tế để thu hút người mua, một số khác thì lại hạ thấp số công suất để tránh các loại giấy tờ bảo hiểm cho xe có công suất lớn. Vậy làm cách nào để ta tính được mã lực là chính xác cho xe máy?

Phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất là phương pháp SAE. Phương pháp này có nhiều sai số nên vào năm 2004, người ta đã công bố phương pháp đo công suất mô-men xoắn mới có tên là J1349. Cách thức tính được áp dụng theo các bước dưới đây:

Đầu tiên ta phải xác định đường kính (bore) và khoảng chạy của piston (K)

Ví dụ xe 1976 Kawasaki KZ750, theo thông số là: 78mmx78mm

Khi đó sẽ áp dụng công thức tính diện tích hình tròn:

S = r2 x 3,14

A = d2/4 x 3,14 Nhân pi*D(cm)^2/4 x K = cm^3.

(7.8 cm (bore) X 7.8 cm (bore) X 3.141593/4) X 7.8 cm (stroke) = 372.71195442 (cm^3).

Lấy kết quả nhân với số xi-lanh 372.71195442 x 2 = 745.42390884 hay 745cc

Đó là cách tính thông thường mà các trường học được đưa ra. Nhưng trong thực tế có rất nhiều chỉ số liên quan khác cũng ảnh hưởng rất lớn đến cách tính công suất.

Công suất sinh ra tại máy cũng có sự khác biệt với công suất ở bánh xe. Nếu như động cơ có công suất 100 mã lực thì sau khi truyền động qua các hệ thống dẫn động thì sức mạnh ra đến bánh xe sẽ bị mất mát một vài phần. Vì vậy, công suất mà nhà sản xuất đưa ra chỉ là giá trị tham khảo, còn muốn biết sức mạnh thực sự của chiếc xe, chỉ còn cách lái thử.

Yếu tố quan trọng là: Công xuất lớn không có nghĩa là vận tốc di chuyển của xe sẽ nhanh mà vận tóc còn phụ thuộc vào mô-men xoắn và vòng tua máy. Ngoài ra hộp số cũng ảnh hưởng rất lớn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *